Phân tích cơ sở lý luận và nêu những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển

Anh/Chị hãy phân tích cơ sở lý luận và nêu những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển

Nội dung của nguyên lý của sự phát triển:

* Thế nào là sự phát triển:

– do có sự tác động giữa các mặt trong cùng 1 sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau đã làm cho các sự vật không ngừng vận động và phát triển.

– Nhưng khi vận động và khái niệm phát triển không đồng nghĩa với nhau.

Vận động là sự biến đổi nói chung (có đi lên, đi xuống, có sang trái, có thể sang phải) trong khi đó phát triển chỉ khái quát sự vận động đi lên.

– Như vậy, phát triển là phạm trù triết học khái quát về sư vận động đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ không hoàn thiện đến hoàn thiện.

– Phép biện chứng duy vật không chỉ thừa nhận phát triển của thế giới mà nó còn chỉ ra cách thức, nguồn gốc, khuynh hướng của sự phát triển. Mặt khác nó cũng chỉ ra phát triển không phải lúc nào cũng diễn ra theo đường thẳng mà trái lại rất quanh co, rất phức tạp, thậm chí có những bước thụt lùi tạm thời.

* Tính chất của sự phát triển:

– Tính khách quan: nguyên nhân, nguồn gốc của sự phát triển nằm bên trong các sự vật hiện tượng, do quá trình đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẩn => sự phát triển diễn ra độc lập với ý thức của con người -> con người không thể dùng ý chí chủ quan của mình để ngăn cản sự phát triển của thế giới.

– Tính phổ biến: sự phát triển diễn ra ở tất cả sự vật, hiện tượng ở mọi lĩnh vực của thế giới: tự nhiên, xã hội và tư duy.

VD: trong tự nhiên: sự phát triển cảu giới tự nhiên: vô sinh và hữu sinh. Vô sinh: sự tác động lẫn nhau giữa chúng đến 1 điều kiện nhất định nào đó sẽ tạo ra 1 chất phức tạp hơn.

Hữu sinh: khả năng hoàn thiện và thích nghi trước sự biến đổi của môi trường.

VD: XH, năng lực chinh phục tự nhiên và khả năng cải tạo XH ngày càng tốt đẹp hơn.

VD: Tư duy, trình độ nhận thức và hiểu biết của thế hệ sau bao giờ cũng cao hơn thế hệ trước. Sự hiểu biết của con người ngày nay càng rộng hơn, sâu hơn.

– Tính đa dạng phong phú của sự phát triển: phát triển là khuynh hướng chung của thế giới, song ở mỗi sự vật hiện tượng, quá trình phát triển lại không giống nhau, không đồng đều do chúng tồn tại ở không gian, thời gian khác nhau. Mặt khác, trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu những sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của tất cả các yếu tố và điều kiện khác.

Những sự tác động như vậy có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đôi khi nó làm thay đổi chiều hướng phát triển, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi.

VD: tại sao VN lại kém phát triển hơn so với TG vì thời gian VN bước vào cơ chế thị trường muộn màng hơn, rồi do chiến tranh => hoàn cảnh, điều kiện khác nhau mà các sự vật phát triển khác nhau.

– Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển

– Trong hoạt động nhận thức yêu cầu chủ thể phải:

> Phát hiện những xu hướng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại của bản thân sự vật trong sự tự vận động và phát triển của chính nó;

> Xây dựng được hình ảnh chỉnh thể về sự vật như sự thống nhất các xu hướng, những giai đoạn thay đổi của nó; từ đó phát hiện ra quy luật vận động, phát triển (bản chất) của sự vật.

> Khi ta xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào thì ta không chỉ nhìn nhận, nắm bắt những cái hiện đang tồn tại mà ta còn phải thấy rõ những khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng. Đồng thời phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như biến đổi có tính chất thụt lùi. Nhưng điều cơ bản phải khái quát được những biến đổi chính để vạch ra những khuynh hướng biến đổi của sự vật, hiện tượng.

> Phải phân chia quá trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn để mà trên cơ sở đó tìm ra những phương pháp nhận thức và cách thức tác động cho phù hợp để thúc đẩy sự vật phát triển nhanh hay kìm hãm sự phát triển đó. Tùy thuộc sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người.

VD: Tư tưởng của Đức Phật: đời người gồm 4 giai đoạn: Sinh – Trụ – Dị – Diệt

– Trong hoạt động thực tiễn yêu cầu chủ thể phải:

> Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng…tồn tại của sự vật để nhận định đúng các xu hướng, những giai đoạn thay đổi có thể xảy ra đối với nó

> Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những điều kiện, phát huy hay hạn chế những khả năng.tồn tại của sự vật nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo hướng hợp quy luật và có lợi cho chúng ta

Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn:

Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục được quan điểm (tư duy) siêu hình trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình.

Quan điểm phát triển mâu thuẫn với sự trì trệ, bảo thủ trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn

Nguyên tắc phát triển đòi hỏi chủ thể phải sử dụng các nguyên tắc khác kèm theo mới làm sáng tỏ bản tính vận động và phát triển tự thân của sự vật như nguyên tắc (phân tích) mâu thuẩn, nguyên tắc tích lượng-chất, nguyên tắc phủ định biện chứng, ….