Có phải Văn hóa là một chỉnh thể thống nhất?

Văn hóa có chủ thể và khách thể là con người nên vô cùng đa dạng và phông phú cho nên phải nhìn nhận văn hóa từ một chỉnh thể thống nhất ta mới có thể lí giải mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội từ đó sẽ hiểu sâu hơn về văn hóa.

Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người.Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đó phần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc.Quan niệm này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam.

Văn hóa Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:

Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.

Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.

Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Ví dụ:4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam gắn với bao thăng trầm của lịch sử, đất nước, bao cung điện, lầu son gác tía được xây dựng rồi bị tàn phá, mai một, quên lãng. Trong hoàn cảnh đó, một loại hình kiến trúc vẫn sống mãi với thời gian – ngôi nhà sàn mang vẻ bình dị, mộc mạc đã góp thêm nét độc đáo vào kiến trúc Việt Nam.

Từ thời vua Hùng khởi nghiệp, nhà sàn đã là nơi cư trú, che nắng, che mưa, ngăn thú dữ, là nơi sum họp gia đình. Ðây là ngôi nhà thích hợp với địa thế dốc và nền đất còn lầy lội. Có hai kiểu nhà sàn được sử dụng ở vùng đất của các vua Hùng (thuộc tỉnh Vĩnh Phú), đó là kiểu nhà có mái cong hình mui thuyền, sàn thấp, không có vách tường ngăn che, đuôi mái gối sát sàn nhà đảm đương nhiệm vụ của tường ngoài. Kiểu thứ hai có mái dốc đổ về hai phía, nghiêng thẳng xuống sàn, phần giữa của mái võng xuống và được trang trí hình chim, thú đẹp mắt.Hai đầu nóc nhà uốn cong, cửa được bố trí ở hai đầu.

Ngày nay, thói quen sinh sống trong nhà sàn của người dân miền núi vẫn không thay đổi, hầu như mọi hoạt động đều diễn ra ở đây: thờ cúng tổ tiên, tiếp khách, nấu nướng, ăn uống và đồng thời cũng là nơi thêu thùa, dệt vải, dệt chăn, dệt thổ cẩm… Ngay cả sân phơi cũng được bố trí trên sàn, nó là một phần của ngôi nhà và ở vị trí thấp hơn sàn nhà chính từ 1 đến 2 bậc lên xuống, nhằm cách biệt với không gian chính. Phía dưới nhà sàn thường để trống hoặc chỉ quây lại một phần nhỏ để nhốt gia súc, gia cầm.

Nhìn chung, vật liệu để xây cất nhà sàn rất đơn giản, thường là gỗ, song, mây, tre, bương, vầu… được khai thác trong các rừng nhiệt đới. Tuy được dựng từ những vật liệu đơn sơ như vậy, nhưng nhà sàn vẫn rất vững chãi nhờ sự hợp lý trong việc tạo tỉ lệ trong kết cấu khung gỗ. Mái của nhà sàn thường có độ dốc lớn, có dạng 2 mái, 3 mái hay 4 mái với vật liệu để lợp thường là lá gồi, tranh hay ngói âm dương… Việc tạo độ dốc lớn như vậy nhằm tạo điều kiện cho nước mưa thoát đi nhanh nhất, đồng thời tận dụng không gian trong bằng cách gác thêm các tấm ván để chứa ngô, khoai, thóc, lúa.Trong nhà sàn, một trong những bộ phận được coi là quan trọng nhất là bếp. Ngoài việc phục vụ cho đun nấu, bếp còn là nơi đốt lửa sưởi ấm cho toàn bộ ngôi nhà, giữ cho mọi thứ được khô ráo, tránh được ẩm thấp của khí hậu miền rừng núi. Thường trong nhà sàn, bếp được đặt ở chính giữa, đây cũng chính là nơi cả gia đình tụ họp sau một ngày lao động, bởi thế bếp trở nên thân thương gần gũi, song cũng vô cùng thiêng liêng đối với mỗi con người.

Nhà sàn của người Tày, Nùng ở Tây Bắc Việt Nam (Lạng Sơn, Cao Bằng) thường được làm tựa lưng vào đồi núi, mặt hướng ra phía ruộng đồng và cảnh trí thiên nhiên thoáng đãng, rộng rãi, tránh núi non, sông ngòi, bụi cây có hình thù kỳ bí. Ðiều này xuất phát từ quan niệm của người Tày, Nùng cho rằng, mỏm núi hình mũi tên hướng vào nhà thì mọi người trong nhà sẽ hay gặp phải tai nạn, thương vong; bụi cây có hình thù của thú dữ sẽ làm cho gia cầm chăn nuôi hay bị chết, bị bắt; còn một dòng suối chảy qua nhà sẽ làm gia đình bị mất của… Mặt bằng nhà sàn của người Tày, Nùng thường có bề ngang hẹp và lòng nhà sâu, trong nhà có từ 7 đến 9 hàng cột. Các ngôi nhà trong bản thường được dựng song song với nhau và chạy theo triền đồi.

Với người Việt, các ngôi nhà của họ lại dàn trải theo chiều ngang do được làm ở vùng đất bằng phẳng hơn. Nhà sàn của người Việt có thang chính lên sàn ở bên phải, và một thang phụ ở bên trái. Tường vách của nhà bằng ván mỏng hoặc phên nứa với kết cấu vì kèo có cột chống thẳng lên nóc, xen giữa 2 cột là 1 hay 2 trụ hình quả bầu, còn mái nhà phần lớn có dạng 4 mái. Việc phân định khu vực trong nhà sàn cũng rõ rệt, phần nhà ngoài bên phải là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi tiếp khách và là nơi ở của nam giới, còn nữ giới thường ở phần bên trái.

Nhà sàn của người Mường mang đặc điểm của cả 2 loại nhà sàn của người Việt và Tày, Nùng.Người Thái lại có kiểu nhà sàn riêng. Tất cả các ngôi nhà trong bản làng người Thái đều hướng về một ngọn núi vút cao, cây cối tươi xanh, thể hiện cho sức sống mãnh liệt, bất diệt, đồng thời rất kiêng ngôi nhà của mình hướng vào khoảng giữa của 2 quả núi. Cũng như các dân tộc khác nhà của người Thái cũng có hướng Bắc – Nam. Tuy nhiên, nét khác biệt là mặt bằng được chia làm 2 phần, phần trên là nơi khách lạ không bao giờ được đặt chân tới, đây là nơi thờ cúng tổ tiên và là nơi ngủ, nghỉ ngơi của tất cả các thành viên trong gia đình. Phần dưới là nơi tiếp khách, nấu nướng, ăn uống và làm các công việc khác: dệt vải, quay sợi…

Nhà sàn của người Thái thường có 2 cửa ra vào, được bố trí ở 2 đầu hồi, cửa ở đầu hồi bên trái được gọi là cửa “chán”, còn cửa ở đầu hồi bên phải được gọi là cửa “quản”. Người nhà thì được qua lại ở cả 2 cửa, nhưng với khách thì lại khác, nếu khách là nam thì qua lại bằng cửa “quản”, còn nữ thì ở cửa “chán”, rể mới đến ở thì được bố trí ngủ dưới mái đầu hồi phía phải được gọi là “táng quản”. Ở đầu hồi còn lại, người Thái bố trí một sàn phơi ngô, sắn, quần áo gọi là “táng chán”, xung quanh có lan can bằng gỗ chắc chắn. Nhà sàn của người Thái còn có hệ thống cửa sổ hay còn gọi là “tủ tang” rất đẹp mắt, được bố trí ngay sát sàn nhà, thường có kích thước 60cm x 100cm, có chấn song gỗ cao 60cm và có 2 cánh. Mái nhà sàn của Thái cũng được làm hết sức độc đáo, thường là 4 mái, 2 mái phẳng hình chữ nhất, đổ nghiêng sang hai bên và 2 mái cong hình quạt ở 2 đầu hồi.

Còn ở Tây Nguyên, các bản làng người Bana, Xêđăng, Giarai… có nhà Rông với mái vút cao, dốc tựa hình lưỡi rìu ngửa lên trời; bờ nóc hình cung có nhiều hình trang trí rất đẹp, là nơi tụ họp, sinh hoạt của cả buôn làng, tựa như ngôi đình làng của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ. Trước nhà rông là một sàn gỗ dài và rộng không lợp mái, như một tiền sảnh của ngôi nhà. Người Êđê ở Ðắk Lắk lại không có nhà Rông, họ sống theo kiểu “mẫu hệ” trong các ngôi nhà sàn thường được gọi là nhà dài, với nhiều gia đình nhỏ. Người Êđê quan niệm phía Ðông là phía trên, là nơi bố trí các phòng ngủ, chỗ ngồi của chủ nhà… còn phía Tây là phía dưới. Nhà sàn của người Êđê không có vì kèo, chỉ có các hàng cột, 2 đầu mái nhô ra 1 – 1,5m, mái nhà hình thang cân, phần dài ở trên, phần ngắn ở dưới. Trong nhà của người Êđê, gian khách thường chiếm một không gian rất rộng, có 4 cây cột chính là cột chủ, cột khách, cột trống và cột chiêng, trong gian khách thường có các ghế khách làm bằng những cây đại thụ dài 27 – 30m được trang trí nhiều hoa văn đẹp.

Dù chỉ là những ngôi nhà ở dung dị, nhưng nhà sàn lại gắn kết với thiên nhiên, chở che con người và mang đến vẻ đẹp của sự bình yên giữa thiên nhiên hùng vĩ.