Dân số là gì? Thế nào là sự gia tăng dân số tự nhiên, sự gia tăng dân số cơ giới; sự gia tăng dân số thực tế ?

Dân số là tổng số người sống trên một lãnh thổ nhất định được tính vào một thời điểm nhất định. Thường thường, sau một thời gian định kì, người ta lại điều tra toàn bộ dân số của một nước để tìm hiểu các mặt dân số (thành phần, tỉ lệ gia tăng, cấu trúc, tuổi) nhằm có kế hoạch chính xác phát triển xã hội và kinh tế. Đó là tổng điều tra dân số.

Sự gia tăng dân số tự nhiên là quá trình tái sản xuất dân cư, thế hệ già được thay thế bằng thế hệ trẻ. Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là số chênh lệch giữa tỉ lệ sinh và tử trong một khoảng thời gian thường là một năm trên một lãnh thổ nhất định, tính bằng phần trăm (%)

Sự gia tăng dân số cơ giới là sự tăng giảm dân số ở một khu vực, một quốc gia do có việc chuyển đổi địa bàn cư trú. Nếu số người xuất cư ít hơn nhập cư thì tỉ lệ tăng cơ giới dương và ngược lại là âm.

Sự gia tăng dân số thực tế là tổng của tỉ lệ tăng tự nhiên và cơ giới. Nó là một khái niệm phản ánh đầy đủ tình hình biến động thực sự của dân số của một nước, một vùng. Gia tăng thực tế có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn sự gia tăng tự nhiên tùy thuộc vào sự gia tăng cơ giới. Khi gia tăng cơ giới dương thì gia tăng thực tế lớn hơn gia tăng tự nhiên. Còn khi gia tăng cơ giới âm thì ngược lại. Mặc dầu sự gia tăng thực tế bao gồm hai bộ phận cấu thành nói trên, song động lực phát triển dân số chính là sự gia tăng tự nhiên. Do đó, những biện pháp điều khiển sự phát triển dân số trước hết và chủ yếu phải nhằm vào việc điều khiển tốc độ gia tăng tự nhiên, đặc biệt là điều khiển tỉ lệ sinh.