Nhưng người tiếp nhận hồ sơ từ chối không chứng thực chữ ký có phù hợp với quy định của pháp luật không?

Ông M đến Ủy ban nhân dân xã K nộp hồ sơ (gồm có: Chứng minh nhân dân đang còn hạn sử dụng và Giấy ủy quyền) yêu cầu chứng thực chữ ký của ông trên Giấy ủy quyền.

Nhưng người tiếp nhận hồ sơ đã từ chối không chứng thực chữ ký cho ông với lý do ông M không biết chữ. Xin hỏi việc từ chối chứng thực trong trường hợp này có phù hợp với quy định của pháp luật không?

Trả lời:

Việc từ chối chứng thực của người tiếp nhận hồ sơ xã K là không phù hợp với quy định của pháp luật vì:

1. Ông M yêu cầu chứng thực chữ ký trong văn bản, giấy tờ, không phải chữ ký người dịch, đây là việc thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã (theo điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch).

– Ông M đã nộp đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

2. Ông M không thuộc một trong các trường hợp không được chứng thực chữ ký quy định tại Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, cụ thể là:

+ Tại thời điểm chứng thực, người yêu cầu chứng thực chữ ký không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

+ Người yêu cầu chứng thực chữ ký xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu không còn giá trị sử dụng hoặc giả mạo.

+ Giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực ký vào có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân.

+ Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch, trừ các trường hợp chứng thực chữ ký trong Giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Điều 26 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP còn quy định: Việc chứng thực chữ ký và trường hợp không được chứng thực chữ ký cũng được áp dụng trong trường hợp chứng thực điểm chỉ khi người yêu cầu chứng thực chữ ký không ký được và trường hợp người yêu cầu chứng thực không thể ký, điểm chỉ được.